• Nguy cơ về Sức khỏe và Bệnh tật liên quan đến lượng tiêu thụ Muối và Natri

  • Đăng bởi: adminNgày đăng: 18/07/2016
  • Những người nào có nguy cơ cao mắc những bệnh liên quan đến lượng muối ăn vào cơ thể?

    • Những người trên 50 tuổi
    • Những người bị huyết áp cao hoặc tăng nhẹ
    • Những người mắc bệnh tiểu đường

     

    Cơ thể  sẽ phản ứng như thế nào khi ăn quá mặn?

     

     

    Đối với đa phần mọi người, thận sẽ bị rối loạn khi nồng độ natri trong máu tăng. Khi natri tích tụ, cơ thể sẽ phải giữ nước để pha loãng nó. Điều này làm tăng cả số lượng các tế bào xung quanh dung dịch và dung lượng  máu trong mạch máu. Lượng máu tăng lên nghĩa là tim buộc phải hoạt động nhiều và thêm áp lực trong mạch máu.  Theo thời gian, do phải tăng cường hoạt động và áp suất có thể dẫn đến cứng mạch máu, gây ra  cao huyết áp, đau tim và đột quỵ. Nó cũng có thể dẫn đến suy tim. Ngoài ra còn có một số bằng chứng cho thấy quá nhiều muối vẫn  có thể gây tổn thương tim, động mạch chủ, và thận mà không cần làm tăng huyết áp, và rằng nó còn có thể có hại cho xương.

     

    Huyết áp cao là một nguyên nhân hàng đầu của bệnh tim mạch. Nó chiếm hai phần ba các ca đột quỵ và một nửa số bệnh tim. (1) Tại Trung Quốc, huyết áp cao là nguyên nhân tử vong hàng đầu có thể phòng ngừa, chịu trách nhiệm cho hơn một triệu ca tử vong mỗi năm. (2)

     

    Tầm quan trọng của Kali

    Natri và kali có tác dụng ngược lại đối với sức khỏe tim: lượng muối cao làm tăng huyết áp, có thể dẫn đến bệnh tim, trong khi lượng kali cao có thể giúp thư giãn các mạch máu, bài tiết natri và giảm huyết áp.

     

    Hàng ngày, cơ thể chúng ta cần nhiều kali hơn so với natri, nhưng chế độ ăn điển hình của Mỹ thì ngược lại: Người Mỹ trung bình tiêu thụ khoảng 3.300 mg natri mỗi ngày, 75 phần trăm trong số đó đến từ thực phẩm chế biến sẵn, trong khi chỉ nhận được khoảng 2.900 mg kali mỗi ngày. (3,4)

     

    Một nghiên cứu gần đây của  Archives of Internal Medicine đã cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy chế độ ăn nhiều muối có tác động tiêu cực đến sức khỏe, và thấy rằng:

     

    • Những người theo chế độ ăn giàu natri và ít kali thấp có nguy cơ cao tử vong vì một cơn đau tim hoặc từ nguyên nhân bất kỳ.
    • Việc thay đổi chế độ ăn này sẽ giúp giảm nguy cơ kể trên: Ăn nhiều rau tươi và trái cây, những loại giàu kali, ít natri ; ăn ít bánh mì, pho mát và thịt chế biến sẵn, bởi các thực phẩm chế biến này chứa nhiều natri nhưng lại nghèo kali. (5)

     

    Nghiên cứu này cho thấy, những người ân mặn (nạp nhiều natri) nhất có nguy cơ tử vong bởi nguyên nhân bất kỳ cao hơn 20 %  so với những người ăn vào  lượng natri thấp nhất;  và những người ăn nhiều kali nhất có nguy cơ tử vọng thấp  hơn 20 % so với những người dùng ít kali nhất . Nhưng đối với sức khỏe mối quan hệ giữa natri kali trong chế độ ăn uống còn quan trọng hơn: Những người ăn chế độ ăn chứa tỷ lệ natri/kali  cao nhất có nguy cơ tử vong vì đau tim cao gấp đôi; và  nguy cơ tử vong vì nguyên nhân bất kỳ  cao hơn 50% so với những người có chế độ ăn với tỉ lệ Natri/Kali thấp nhất,. (5)

     

     

    Bệnh tim mạch

     

    Ngoài việc gây ra huyết áp cao thì việc ăn nhiều natri (muối) còn dẫn đến đột quỵ, đau tim và suy tim.

     

    Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc  giảm lượng natri lâu dài trong chế độ ăn sẽ giúp giảm tỉ lệ mắc  bệnh cũng như tử vong vì bệnh tim mạch.

     

     

    3 nghiên cứu chuyên về mối  liên hệ  giữa natri và bệnh tim mạch:

     

     

     

    1.Nghiên cứu Intersalt: Vào những năm 1980, các nhà nghiên cứu đã đo lượng natri bài tiết trong khoảng thời gian 24 giờ (khoảng thời gian tối ưu để đào thải hết lượng muối) trên hơn 10.000 người trưởng thành từ 32 quốc gia, cho kết quả trung bình là gần 4.000 mg natri mỗi ngày/người. Tuy nhiên, phạm vi là rất lớn, từ 200 mg/ngày ở  người Yanomamo ở Brazil đến 10.300 mg/ngày ở người dân miền bắc Nhật Bản. (7) Nhóm những người có mức tiêu thụ muối cao có huyết áp trung bình cao hơn và chỉ số huyết  áp tăng nhiều  hơn khi có tuổi. Bốn nhóm người- đến từ bốn quốc gia có lượng tiêu thụ muối dưới 1.300mg/ngày –  có huyết áp trung bình thấp ngày và ít hoặc không có xu hướng tăng huyết áp khi lớn tuổi.

     

    2.TOHP (Two Trials of Hypertension Prevention): Hai thử nghiệm về phòng chống cao huyết áp (TOHP): đã được tiến hành vào cuối năm 1980 và đầu những năm 1990. Họ đã thử nghiệm tác động của thay đổi lối sống lên bệnh huyết áp, bao gồm giảm cân, quản lý căng thẳng, bổ sung dinh dưỡng, và tiêu thụ ít natri. Trong mỗi nghiên cứu, sự giảm nhỏ huyết áp đã được nhận thấy khi giảm tiêu thụ natri kéo dài từ 18 đến 36 tháng thử nghiệm. Nhiều năm sau khi các thử nghiệm kết thúc, các nhà nghiên cứu đã khảo sát những người tham gia và thấy rằng:

     

    • Sau khi khoảng 10-15 năm, những người tham gia TOHP trong nhóm giảm natri đã giảm 25 % nguy cơ bị đau tim hoặc đột quỵ, hoặc phải qua thủ thuật để thông hoặc cắt bỏ phần tắc ở động mạch vành, cũng như    qua đời vì bệnh tim mạch. (số 8)
    • Chế độ ăn của người tham gia có tỷ lệ kali/natri càng cao, thì nguy cơ phát triển các bệnh về tim mạch càng giảm. (9) Điều này cho thấy một chiến lược bao gồm cả tăng kali và hạ natri có thể là cách hiệu quả nhất để chống lại bệnh cao huyết áp.

     

     3.The Dietary Approaches to Stop Hypertension (DASH) : nghiên cứu Phương pháp tiếp cận thông qua các chế độ ăn uống để giảm cao huyết áp (DASH), bắt đầu vào năm 1994, là tiến bộ quan trọng trong nghiên cứu huyết áp đã phát hiện mối liên quan giữa chế độ ăn và huyết áp. (11) Trong giai đoạn đầu, 459 người tham gia được yêu cầu ngẫu nhiên: hoặc là theo một chế độ ăn uống tương tự chế độ ăn tiêu chuẩn Mỹ – gồm nhiều thịt đỏ, đường, và ít chất xơ- nhưng  nhiều trái cây và rau quả hơn ; hoặc theo  ” chế độ ân DASH” (chế độ ăn giúp giảm huyết áp), gồm  chủ yếu các loại trái cây, rau quả, các  thực phẩm từ sữa ít chất béo và hạn chế  thịt đỏ, chất béo bão hòa, và đồ ngọt. Sau tám tuần thực hiện, cả hai chế độ  ăn đều cho kết quả giảm huyết áp tâm thu (số ở trên của chỉ số đo huyết áp) và huyết áp tâm trương (số ở dưới của chỉ số huyết áp), nhưng  với chế độ ăn DASH cho hiệu quả rõ rệt hơn.

     

    Giai đoạn tiếp theo của Nghiên cứu cho thấy việc giảm lượng natri trong chế độ ăn  DASH cũng như trong chế độ ăn tiêu chuẩn Mỹ  tác động mạnh mẽ hơn nữa vào việc giảm huyết áp. Các nghiên cứu  DASH đóng góp nhiều về cơ sở khoa học cho Hướng Dẫn Chế
    Độ ăn uống cho người Mỹ  bản năm 2010, trong đó khuyến nghị nên giảm natri hàng ngày ít hơn một muỗng cà phê.

     

    Các bệnh khác

     

    Ung thư

     

    Nghiên cứu cho thấy ăn nhiều muối, natri, hoặc thức ăn mặn có liên quan đến sự gia tăng ung thư dạ dày. Quỹ Nghiên cứu Ung thư thế giới và Viện Nghiên cứu Ung thư Hoa Kỳ kết luận rằng muối, cũng như các loại thực phẩm ướp muối  hoặc chứa nhiều muối, “có thể là một tác nhân gây ra bệnh ung thư dạ dày.” (12)

     

    Loãng xương

     

    Lượng canxi mà cơ thể của bạn bị mất qua đường tiểu sẽ tăng lên cùng với lượng muối nạp vào cơ thể. Khi máu thiếu canxi, cơ thể sẽ  tự động lấy từ trong xương để bù vào. Vì vậy, một chế độ ăn nhiều natri (muối)  có thể gây ra một tác động không mong muốn – bệnh loãng xương. (1) Một nghiên cứu phụ nữ sau mãn kinh kéo dài hơn 2 năm cho thấy sự suy giảm của mật độ xương hông có liên quan đến việc bài tiết natri trong vòng 24 giờ qua đường tiểu ở giai đoạn  đầu cuộc nghiên cứu, và liên hệ nó với sự giảm mật độ  xương cũng như việc tiêu thụ canxi. (13) Các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng việc giảm tiêu thụ muối sẽ tạo ra một sự cân bằng canxi tích cực, cho thấy việc giảm lượng muối ăn vào cơ thể có thể làm chậm sự mát canxi từ xương vốn xảy ra trong  quá trình lão hóa.

     

    Nguồn tham khảo:

     

    1. He FJ, MacGregor GA. A comprehensive review on salt and health and current experience of worldwide salt reduction programmes. J Hum Hypertens. 2009;23:363-84. 
    2. He J, Gu D, Chen J, et al. Premature deaths attributable to blood pressure in China: a prospective cohort study. Lancet. 2009;374:1765-72. 
    3. Brown IJ, Tzoulaki I, Candeias V, Elliott P. Salt intakes around the world: implications for public health.Int J Epidemiol. 2009;38:791-813. 
    4. Dietary Guidelines for Americans Scientific Advisory Committee. Report of the Dietary Guidelines Advisory Committee on the Dietary Guidelines for Americans, 2010, to the Secretary of Agriculture and the Secretary of Health and Human Service. 2010.
    5. Yang Q, Liu T, Kuklina EV, et al. Sodium and potassium intake and mortality among US adults: prospective data from the Third National Health and Nutrition Examination Survey. Arch Intern Med. 2011;171:1183-91.
    6. Strazzullo P, D’Elia L, Kandala NB, Cappuccio FP. Salt intake, stroke, and cardiovascular disease: meta-analysis of prospective studies. BMJ. 2009;339:b4567. 
    7. Institute of Medicine. A Population-Based Policy and Systems Change Approach to Prevent and Control Hypertension. Washington, D.C.: The National Academies Press; 2010.
    8. Cook NR, Cutler JA, Obarzanek E, et al. Long term effects of dietary sodium reduction on cardiovascular disease outcomes: observational follow-up of the trials of hypertension prevention (TOHP).BMJ. 2007;334:885-8.
    9. Cook NR, Obarzanek E, Cutler JA, et al. Joint effects of sodium and potassium intake on subsequent cardiovascular disease: the Trials of Hypertension Prevention follow-up study. Arch Intern Med. 2009;169:32-40.
    10. Appel LJ, Moore TJ, Obarzanek E, et al. A clinical trial of the effects of dietary patterns on blood pressure. DASH Collaborative Research Group. N Engl J Med. 1997;336:1117-24.
    11. Sacks FM, Svetkey LP, Vollmer WM, et al. Effects on blood pressure of reduced dietary sodium and the Dietary Approaches to Stop Hypertension (DASH) diet. DASH-Sodium Collaborative Research Group. N Engl J Med. 2001;344:3-10.
    12. World Cancer Research Fund, American Institute for Cancer Research. Food, Nutrition, Physical Activity, and the Prevention of Cancer:  A Global Perspective. London; 2007.
    13. Devine A, Criddle RA, Dick IM, Kerr DA, Prince RL. A longitudinal study of the effect of sodium and calcium intakes on regional bone density in postmenopausal women. Am J Clin Nutr. 1995;62:740-5.

     

  • Bình luận

    Bình luận đầu tiên


    wpDiscuz
    
    GIẢM GIÁ HÀNG CẬN DATE_ 615k giảm còn 300k
    Date T3/2018_ Cho phụ nữ trên 50
    vitacare.vn

    Liên hệ mua hàng