Phân tích nhu cầu dinh dưỡng của riêng bạn

  •  

    NHU CẦU DINH DƯỠNG CÁ NHÂN

    Nhắc đến nhu cầu dinh dưỡng, ta nghĩ ngay đến tính cá nhân hóa. Mỗi cá nhân có có sở thích ăn uống khác nhau, công việc khác nhau, hoàn cảnh sống khác nhau… đặc biệt là do cơ thể khác nhau, dẫn tới đặc điểm tiêu hao năng lượng khác nhau, Những yếu tố trên  dẫn tới nhu cầu dinh dưỡng của từng người khác nhau

    Chúng ta cùng xem xét các yếu tố cơ bản:

    I. NĂNG LƯỢNG TIÊU HAO:

    Trong quá trình sống của con người luôn phải có các hoạt động sống như: đi lại, ăn uống,.khóc cười.. Và quá trình đó cần năng lượng tiêu hao.

    Nguồn năng lượng đó là từ thức ăn dưới dạng protein, lipit, gluxit.

    Người ta đã dùng đơn vị năng lượng tính là  KILOCALO ( VIẾT TẮT LÀ KCAL ).

    Có những loại năng lượng tiêu hao sau:

    1. Chuyển hóa cơ sở.

    Chuyển hóa cơ sở là năng lượng cơ thể tiêu hao trong điều kiện nghỉ ngơi, mục đích là  duy trì các chức phận sống của cơ thể như tuần hoàn, hô hấp, bài tiết, tiêu hóa, duy trì tính ổn định các thành phần của dịch thể bên trong và bên ngoài tế bào.

    Người ta biết rằng hoạt động của gan cần đến 27% năng lượng của chuyển hoá cơ sở, não 19%, tim%, thận 10%, cơ 18%, và các bộ phận còn lại chỉ 18%. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chuyển hóa cơ sở: cường độ hoạt động các hệ thống nội tiết và men. Chức phận một số hệ thống nội tiết làm chuyển hóa cơ sở tăng (ví dụ giáp trạng) trong khi đó hoạt động một số tuyến nội tiết khác làm giảm chuyển hóa cơ sở (ví dụ tuyến yên). Chuyển hóa cơ sở của trẻ em cao hơn ở người lớn tuổi, TUỔI CÀNG NHỎ CHUYỂN HOÁ CƠ SỞ CÀNG CAO. Chính vì thế, ta thấy các bé thường có thân nhiệt cao hơn của người lớn. Ở người đứng tuổi và người già chuyển hoá cơ sở thấp dần cùng với hiện tượng giảm khối nac và tăng khối mỡ. ở người trưởng thành, năng lượng cho chuyển hóa cơ sở vào khoảng 1kcal/kg cân nặng/1 giờ.

     người phụ nữ có thai chuyển hóa tăng trong thời kì mang thai, và cao nhất ở những tháng cuối, trung bình ở PHỤ NỮ MANG THAI chuyển hóa cơ sở tăng 20%. Khi một người bị thiếu dinh dưỡng hay bị đói, chuyển hóa cơ sở cũng giảm, hiện tượng đó sẽ mất đi khi nào cơ thề được đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng. Cấu trúc cơ thể của cá nhân có ảnh hưởng đến chuyển hóa cơ sở, so sánh người có cùng trọng lượng, người có khối mỡ nhiều chuyển hóa cơ sở thấp hơn so với người có khối nạc nhiều.

    Nhiệt độ cơ thể liên quan với chuyển hóa cơ sở, khi cơ thể bị sốt tăng lên 10C thì chuyển hóa cơ sở tăng 7%. .Nhiệt độ môi trường cũng có ảnh hưởng tới chuyển hóa cơ sở song không lớn lắm, thường khi nhiệt độ môi trường tăng thì chuyển hóa cơ sở cũng tăng lên và ngược lại nhiệt độ môi trường giam chuyển hóa cơ sở cũng giảm.

    Sau một bữa ăn chuyển hóa cơ sở tăng lên từ 5% đến 30% , người ta gọi đó là tác dụng động lực đặc hiệu , trong đó đạm tăng tới 40%, chất béo 14%, gluxit 6%.

    1. Lao động thể lực.

    Ngoài phần năng lượng tiêu hao cho chức năng sinh hóa của cơ thể, lao động thể lực càng nặng thì tiêu hao càng nhiều năng lượng.

    1. Tính nhu cầu năng lượng cả ngày.

    Ðể xác định nhu cầu năng lượng cả ngày, người ta cần biết nhu cầu cho chuyển hóa cơ sở và thời gian, tính chất các hoạt động thể lực trong ngày.

    1. DUY TRÌ CÂN NẶNG NÊN CÓ:

    ở trẻ em, tăng cân là một biểu hiện của PHÁT TRIỂN BÌNH THƯỜNG VÀ DINH DƯỠNG HỢP LÝ. ở người trưởng thành quá 25 tuổi CÂN NẶNG THƯỜNG DUY TRÌ Ở mức ổn định quá béo hay quá gầy đều không có lợi đối với sức khỏe. Người ta thấy rằng tuổi thọ trung bình của người béo thấp hơn và tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch cao hơn người bình thường. Có nhiều CÔNG THỨC để tính cân nặng “nên có” hoặc các chỉ số tương. ứng. Một chỉ số quan trọng được TỔ CHỨC Y tế thế giới (1985) khuyến nghị tham chiếu  là chỉ số khối cơ thể (BODY MASS INDEX, BMI ), TRƯỚC ÐÂY CÒN GỌI LÀ CHỈ SỐ QUETELET:

    BMI = Chiều cao (m) / Bình phương của cân nặng (kg)

     

    Theo  TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI, CHỈ SỐ BMI Ở người bình thường nên năm trong khoảng 18,5-25 ở CẢ NAM VÀ NỮ. THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA VIỆN DINH DƯỠNG, CHỈ SỐ BMI Ở người Việt nam 26-40 tuổi :  Nam là 19,72 2,81, Nữ 19,75 3,41

    II.  NHU CẦU CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CỦA CƠ THỂ

    Do những yếu tố phân tích ở trên, ta thấy các cá nhân khác nhau có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau.  Cùng độ tuổi, nhưng có những người chỉ ăn vào lượng ít hơn 1/2 so với người khác, có vóc dáng cơ thể  bé nhỏ hơn hẳn, song lại oàn toàn không có vấn đề gì về sức khỏe.

    Tất nhiên trường hợp đó không quá hiếm gặp, song cũng không quá phổ biến. Mà chủ yếu là hiện tượng kém ăn do bệnh (như các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng rất phổ biến ở các trẻ thấp còi và biếng ăn.

    Ngoài ra, do tính chất hấp thụ của từng cá nhân, cũng dẫn đến  1 lượng thức ăn như nhau song lại được các cơ thể hấp thu khác nhau.

    . Nhu cầu các chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng

    1. Nhu cầu Protein (đạm)

    Trong quá trình sống, thường xuyên diễn ra quá trình phân hủy và sinh tổng hợp các chất, quá trình thay cũ đổi mới về thành phần tế bào. Ðể đảm bảo quá trình phân hủy và đổi mới hàng ngày cần bổ xung chất protein vào máu.  PROTEIN (đạm)  ở cơ thể người ta chỉ có thể tạo thành từ protein của thực phẩm, chất protein không thể tạo thành từ chất lipit và gluxit.

    Bản chất của nhu cầu protein: Nhu cầu protein cho duy trì quá trình thay cũ đổi mới, bù đắp lượng ni tơ mất theo da, phân, và trong chu kì kinh nguyệt. Nhu cầu protein để phát triển cơ thể đang lớn, phụ nữ có thai cần protein để xây dựng tổ chức mới, người mẹ cho con bú mỗi ngày tiết 500ml sữa có khoảng 10,5g protein. Nhu cầu protein cho quá trình hồi phục sau một chấn thương (mổ, bỏng) hay sau khi ốm khỏi, cơ thể cần protein dể hồi phục.

    Người ta đã xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu protein như:

    • Các yếu tố công kích, thường phải mất cho các yếu tố này tới 10% nhu cầu đó là các tác động của các stress, phiền muộn, mất ngủ, nhiễm khuẩn nhẹ…
    • Nhiệt độ môi trường cũng có ảnh hưởng tới nhu cầu protein, khi ở MÔI TRƯỜNG NÓNG LƯỢNG ni tơ mất theo mồ hôi tăng lên.
    • Khi bị nhiễm khuẩn cơ thể tăng quá trình giáng hóa protein, tổn thương ở các mô bị nhiễm khuẩn, sốt đều dẫn tới nhu CẦU PROTEIN TĂNG LÊN.
    • Ở người lao động nhu cầu protein tăng lên không chỉ do nhu cầu năng lượng tăng mà protein còn cần thiết cho việc tái tạo các thể liên kết photphat sinh năng lượng đòi hỏi cơ chất là protein.
    • Trẻ em hay ở  phụ nữ có thai và cho con bú : nhu cầu protein tăng cao hơn ở các giai đoạn khác.

     

    1. Nhu cầu lipit:

    Nhu cầu về lipit hiện nay vẫn còn đang tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ. Theo một số các công trình nghiên cứu cho thấy lượng lipit nên có là 20% trong số năng lượng của khẩu phần và không nên vượt quá 25-30% tổng số năng lượng của khẩu phần. Riêng đối với những người hoạt động thể lực nặng, nhu cầu năng lượng cao trên 4000 Kcal/ngày lượng lipit tăng lên nhưng cũng chỉ trong một thời gian ngắn.

    Tuy nhiên nhu cầu chất béo còn phụ thuộc vào tuổi, tính chất lao động, đặc điểm dân tộc, khí hậu. Người ta thấy nhu cầu lipit có thể tính TƯƠNG  ÐƯƠNG VỚI LƯỢNG PROTEIN ĂN VÀO.

     người còn trẻ và trung niên tỷ lệ đó có thể là 1:1 nghĩa là lượng đạm và lipit ngang nhau trong khẩu phần. ở người đã lớn tuổi tỷ lệ lipit nên giảm bớt và tỉ lệ lipit với protein là 0,7:1. Ở NGƯỜI GIÀ lượng lipit chỉ nên bằng 1/2 lượng protein.

    1. Nhu cầu gluxit.

    Nhu cầu gluxit từ trước chủ yếu xác định phụ thuộc vào tiêu hao năng lượng vì cho rằng gluxit đơn thuần là nguồn cung cấp năng lượng. Ngày nay người ta thấy gluxit có một số chức năng mà các chất dinh dưỡng khác không thể thay thế được. Ví dụ hoạt động của tế bào não, tế bào thần kinh thị giác, mô thần kinh đặc biệt dựa vào glucose là nguồn năng lượng chính. Gluxit còn đóng vai trò quan trọng khi liên kết với những chất khác tạo nên cấu trúc của tế bào, mô và các cơ quan. Không những thế, chế độ ăn đảm bảo gluxit còn cung cấp cho có những chất cần thiết khác.

    Một số nghiên cứu về nhân chủng học và dinh dưỡng ở MỘT SỐ BỘ LẠC NGƯỜI ta chủ yếu ăn thịt động vật và chất béo, lượng gluxit chỉ dưới 20% (người Eskimos). Còn phần lớn mọi người đều ăn chế độ hỗn hợp với lượng gluxit có từ 56-70% năng lượng. Cho đến nay nhu cầu về gluxit luôn dựa vào việc thỏa mãn nhu cầu về năng lượng và liên quan với các vitamin nhóm B CÓ NHIỀU TRONG NGŨ cốc.

    1. Nhu cầu Khoáng chất

    Hiện nay người ta tìm thấy trong cơ thể con người có khoảng 60 nguyên tố trong bảng hệ thống tuần hoàn Menđêlêep trong đó vai trò của nhiều nguyên tố chưa được xác định. Nhưng mọi người đều thấy rõ vai trò của chất khoáng, nếu trong khẩu phần để nuôi động vật thí nghiệm không có chất khoáng thì động vật nhanh chóng bị chết.

    Chất khoáng là thành phần quan trọng của tổ chức xương có tác dụng duy trì áp lực thẩm thấu, có nhiều tác dụng trong các chức phận sinh lý và chuyển hóa của cơ thể ăn thiếu chất khoáng sinh nhiều bệnh. Thiếu iốt gây bướu cổ. Thiếu fluo gây hà răng. Thiếu canxi sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của cơ tim, tới chức phận tạo huyết và đông máu, gây bệnh còi xương ở trẻ em và xốp xương ở người lớn và người già.

    Chi tiết xem thêm phần KIẾN THỨC.

    2. Nhu cầu  VITAMIN

    Vitamin là những chất hữu cơ cần thiết với cơ thể và tuy nhu cầu đòi hỏi với số lượng ít, nhưng chúng bắt buộc phải có trong thức ăn. Các vitamin về hóa học không cùng họ với nhau và chỉ một số là các amin.

    Chi tiết xem thêm phần KIẾN THỨC.

     

Tin Liên Quan


GIẢM GIÁ HÀNG CẬN DATE_ 615k giảm còn 300k
Date T3/2018_ Cho phụ nữ trên 50
vitacare.vn

Liên hệ mua hàng