• Hiểu thêm về các loại hình nghiên cứu khoa học

  • Đăng bởi: adminNgày đăng: 08/08/2016
  •  

    Các nghiên cứu khoa học luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc, trình tự nhằm  tránh sự tùy tiện.

     

    Trong quá trình đó, các kết quả của các nghiên cứu dường như đáng tin cậy có thể được thay thế bởi các kết luận của những nghiên cứu mới hơn.  Điều này có thể khiến những người luôn  cố gắng để có sự lựa chọn lành mạnh bực bội, khi  những kết luận khoa học  lại có thể thay đổi từ năm này sang năm sau, ví dụ: như đối với thực phẩm: nay là cà phê, nhưng mai có thế là trứng. Tuy nhiên, việc sửa đổi hoặc điểu chính những kiến thức đã được chấp nhận thông thường bằng thông tin  mới hơn, đúng đắn hơn là bình thường và thậm chí là  mong muốn trong khoa học và điều này là giống nhau về khoa học dinh dưỡng  so với các khoa học khác , chẳng hạn như vật lý học, y học, hoặc hóa học.

     

    Thay vì đổ xô tìm kiếm những thông tin mới nhất  luôn tập trung trong  các tiêu đề trong các bản tin sáng, hãy khôn ngoan hơn,  đọc một cách cẩn thận và cân nhắc xem trọng lượng của bằng chứng từ một loạt các nghiên cứu  để bảo đảm khi thực hiện bất kỳ thay đổi nào. Cảnh giác với những dòng tít  đưa ra những tuyên bố dứt khoát: “Chất chống oxy hóa ngăn chặn lão hóa”, “Vitamin C ngăn ngừa ung thư”,v.v. Các phương tiện truyền thông đôi khi không đặt một nghiên cứu trong bối cảnh bằng cách giải thích các loại hình nghiên cứu báo cáo. Bất kỳ phát hiện mới thú vị có thể được trình bày như là sự khẳng định, đặc biệt là nếu bạn chỉ đọc lướt qua các tiêu đề. Bài báo có thể cung cấp rất  ít về chất lượng của nghiên cứu. Hơn nữa, khi nói đến chế độ ăn uống và dinh dưỡng, mỗi loại nghiên cứu phải đối mặt với một loạt những thách thức và hạn chế.

     

     

    Dưới đây là một số các loại hình nghiên cứu chính:

    • Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm được thực hiện trong ống nghiệm hoặc trên động vật. Họ có thể chỉ ra một vitamin, chất khoáng hay hóa chất từ thực vật tác động nhưng thế nào và tại sao. Nhưng những kết quả này không thể áp dụng cho con người và cũng không cung cấp bằng chứng đủ mạnh để thực hiện thay đổi trong thói quen ăn uống.
    • Nghiên cứu quan sát (còn gọi là nghiên cứu dịch tễ học) được thực hiện đối với số lượng lớn người tham gia- đôi khi 100.000 hay nhiều hơn nữa và có thể kéo dài trong nhiều thập kỷ. Các nhà khoa học thu thập nhiều loại  dữ liệu đình kỳ một cách thường xuyên bởi người tham gia vẫn sống cuộc sống bình thường của họ. Bằng cách so sánh với những người luôn khỏe mạnh với những người bị ốm, các nhà nghiên cứu cố gắng xác định các yếu tố có thể giải thích cho sự khác biệt. Các nghiên cứu này có thể rất mạnh mẽ, vì họ theo dõi, quan sát những gì mọi người thực sự làm trong cuộc sống của họ trong nhiều năm. Nhưng họ không thể chứng minh nhân quả, mà chỉ có tương quan. Ví dụ, những người ăn quả việt quất có thể là lành mạnh hơn vì họ sống cuộc sống lành mạnh nói chung, chứ không phải vì họ ăn quả việt quất. Các nhà khoa học cố gắng điều chỉnh loại bỏ các yếu tố “nhiễu” đó, nhưng vẫn không thể rút ra kết luận chắc chắn.

     

    Hai dạng  nghiên cứu quan sát thông thường là: Nghiên cứ bệnh chứng và nghiên cứu nhóm, mỗi loại lại có những hạn chế riêng.

    • Nghiên cứu bệnh chứng đầu tiên xác định những người tham gia theo một điều kiện cụ thể (trường hợp), sau đó chọn những người khỏe mạnh tương tự nhưng lại không có các điều kiện (bằng chứng), và hỏi tất cả những người này về các yếu tố trong quá khứ có thể liên quan đến điều kiện họ quan tâm. Những nghiên cứu này có thể bị sai lệch  bởi các vấn đề được gọi là “lựa chọn thiên vị” hay “thiên vị nhớ lại.” Thiên vị lựa chọn có nghĩa là các “bằng chứng”  không tương tự, đủ để cung cấp một so sánh tốt. Nhớ lại thiên vị có nghĩa là các cá nhân có thể không nhớ lại hành vi của họ một cách chính xác. Ví dụ, khi người ốm được yêu cầu mô tả chế độ ăn uống của họ, họ thường nhớ lại một chế độ ăn uống tồi tệ hơn thực tế. Trong khi đó, những người khỏe mạnh lại có  xu hướng nhìn thấy chế độ ăn của họ thông qua kính màu hồng.
    • Các nghiên cứu nhóm (Nghiên cứu thuần tập) : bắt đầu khi các nhà nghiên cứu khoanh vùng một nhóm lớn của những người ban đầu không có một điều kiện cụ thể, hỏi họ về về các yếu tố hiện nay mà họ quan tâm, và tiếp tục theo dõi họ qua 1 thời gian để tìm xem ai sẽ mắc bệnh này và ai không. Bởi vì những người tham gia thường xuyên được đặt câu hỏi về chế độ ăn và lối sống trước khi phát sinh các điều kiện trong nghiên cứu  của họ, nên nghiên cứu nhóm  là mô hình nghiên cứu quan sát. Tuy nhiên, vì quy mô nhóm là rất lớn, người ta thường dựa vào bảng câu hỏi để đánh giá chế độ ăn uống mà điều này lại dễ bị chủ quan và dẫn đến một ước lượng sai về kích thước thật sự của hiệu ứng. Ví dụ về những dạng nghiên cứu này như: “nghiên cứu sức khỏe các y tá” và Nghiên cứu “theo doi sức khỏe các chuyên gia”

     

     Các nghiên cứu chuyển hóa thường liên quan đến một lượng nhỏ của những người tình nguyện theo chế độ ăn được chuẩn bị đặc biệt  cho khoảng thời gian ngắn và được kiểm tra đều đặn. Những nghiên cứu này rất nghiêm ngặt và kiểm soát chặt chẽ, nhưng lại quá ngắn ngủi để cho thấy tác dụng thực tế trên bệnh trong thời gian dài. Thay vào đó, các nhà nghiên cứu sử dụng chúng để theo dõi những thay đổi trong các yếu tố nguy cơ hoặc đánh dấu sinh học, chẳng hạn như huyết áp cao, mức cholesterol cao, đường huyết cao, hoặc viêm nhiễm.

     

     

    Thử nghiệm ngẫu nhiên thường được dựa trên tiêu chuẩn vàng của nghiên cứu khoa học. Các nhà nghiên cứu chỉ định ngẫu nhiên các đối tượng để nhận hoặc một điều trị tích cực (như một bổ sung vitamin) hoặc giả dược – một viên thuốc hoặc can thiệp nào khác trông giống như điều trị tích cực nhưng không có ảnh hưởng đến cơ thể. Các loại hình nghiên cứu này có thể trực tiếp kiểm tra xem việc điều trị có tạo ra một sự khác biệt hay không. Nhưng các nghiên cứu này cũng nảy sinh các vấn đề  nếu có có liên quan đến dinh dưỡng.

    Đầu tiên là chúng có thời hạn quá ngắn để có thể quan sát những hậu quả lâu dài của một chất dinh dưỡng. Ví dụ, nghiên cứu sức khỏe Bác sĩ ở Havard , beta carotene đã không xuất hiện bất kỳ ảnh hưởng nào được ghi nhận trong khoảng 12 năm, nhưng ở năm thứ 18, những lợi ích đã được phát hiện. Ngoài ra, những nghiên cứu này có thể gồm những người  tham gia có sức khỏe tốt hơn hoặc tồi hơn sức khỏe của bạn, do đó, nghiên cứu  có thể không mang lại thông tin có liên quan đến bạn. Một số nghiên cứu lại  không phát hiện thấy tác dụng của việc bổ sung vitamin hoặc khoáng chất,  như các nghiên cứu đó trên những người đang bị bệnh tim hoặc tiểu đường; người ta không rõ làm thế nào mà chúng lại có tác động hiệu quả trên người khỏe mạnh hơn. Ngoài ra, vì kiến thức hạn chế về một căn bệnh (ví dụ, ung thư), các  thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên có thể không đưa ra được một sự can thiệp chế tới độ ăn uống trong khi nó có thể cho những kết quả tốt nhất; những người tham gia có thể đã quá yếu khiến  sự thay đổi có thể đến quá chậm  để  có thể tạo một sự khác biệt rõ ràng đối với nhóm đối chứng. Điều cuối cùng, các thử nghiệm này có thể cực kỳ khó thực hiện bởi vì các nhà nghiên cứu phải kiểm soát các hành vi của một số đông người, thường là  trong nhiều năm. Một số người có thể không uống bổ sung theo quy định, họ có thể thử phương pháp điều trị  khác, hoặc có thể rời khỏi nghiên cứu. Nếu người tham gia không ở lại với các điều trị được giao, phát hiện này có thể bị mờ hoặc thậm chí loại trừ.

     

     

    Phân tích meta là một chiến lược thống kê xác định lại các nghiên cứu đã được công bố trước đây có chứa các số liệu có thể so sánh và kết hợp các bằng chứng lại với nhau, tìm kiếm các mẫu  chứng thực hoặc mâu thuẫn với kết quả từ các nghiên cứu cá nhân. Đầu ra chính là một tác động ước tính tổng thể duy nhất, dựa trên tất cả các bằng chứng kết hợp;  trên thực tế, đây là một nghiên cứu của nghiên cứu. Một thế mạnh quan trọng của phân tích là khả năng để kết hợp dữ liệu từ nhiều nghiên cứu công bố trước đây, thường là trên dân số và các quốc gia khác nhau, để lấy được một ước tính tổng thể tốt nhất của hiệu ứng. Một hạn chế của nghiên cứu này là  là sự tin cậy của các ước tính cuối cùng phụ thuộc gần như hoàn toàn vào chất lượng của từng  nghiên cứu cá nhân của phân tích meta lớn: nếu nghiên cứu meta bao gồm các  nghiên cứu cá nhân  tốt,  nó sẽ cho ra kết quả phân tích tốt, nhưng nếu không, nhiều khả năng sẽ nhận được kết quả tồi.

     

     

     

    Hãy chắc chắn là bạn để nhìn xa hơn các tiêu đề để biết thêm thông tin. Các kênh uy tín về thông tin y tế luôn cố gắng để phát hành các nghiên cứu quan trọng. Bạn cũng nên kiểm tra với bác sĩ của bạn trước khi thực hiện những thay đổi lớn trong chế độ ăn.

     

     

  • Bình luận

    Bình luận đầu tiên


    wpDiscuz
    
    GIẢM GIÁ HÀNG CẬN DATE_ 615k giảm còn 300k
    Date T3/2018_ Cho phụ nữ trên 50
    vitacare.vn

    Liên hệ mua hàng