Thẻ lưu trữ: Thuốc bổ

Tật Nứt đốt sống (Spina Bifida)- Dị tật bẩm sinh xảy ra trong thai kỳ và cách ngăn ngừa

Phụ nữ trong độ tuổi sinh nở cần biết: 

 

Tật nứt đốt sống (Spina Bifida)- Dị tật bẩm sinh xảy ra trong thai kỳ và cách ngăn ngừa

 

Nứt đốt sống là một khuyết tật của ống thần kinh (neural tube defect – NTD). Thuật ngữ này mô tả gai xương bị hở hay cột sống có phần không kín hoàn toàn. Hình thức nghiêm trọng nhất của nứt đốt sống có thể bao gồm cơ suy yếu hoặc liệt ở phần hở, mất cảm giác dưới phần hở và mất khả năng kiểm soát bàng quang và đại tràng.

Nhìn chung, nứt đốt sống có ba dạng chính (từ nhẹ tới nặng):

 1/  Nứt đốt sống ẩn: xuất hiện khoảng hở ở một hoặc nhiều đốt sống (xương) trên cột sống mà không gây tác hại rõ ràng tới tủy sống.

 

2/  Thoát vị màng não: Màng não, nghĩa là phần bao bọc bảo vệ xung quanh tủy sống, đẩy ra ngoài qua khoảng hở trên đốt sống trong một túi bao gọi là thoát vị màng não. Phần tủy sống vẫn không bị ảnh hưởng gì; điều này có thể được sửa chữa mà không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít tới đường thần kinh.

 

3/   Thoát vị tủy-màng tủy: Đây là dạng nghiêm trọng nhất của nứt đốt sống, trong đó một phần của chính tủy sống hở ra qua lưng. Trong một số trường hợp, các túi được da bao bọc; trong những trường hợp khác, mô và dây thần kinh hở ra.

 

Khoảng 40 % người Mỹ có thể bị mắc chứng nứt đốt sống ẩn, nhưng do họ không gặp hoặc gặp rất ít triệu chứng nên không mấy người trong số họ biết rằng họ mắc khuyết tật này.

Hai loại khác của nứt đốt sống là thoát vị màng não và thoát vị tủy-màng tủy được hiểu chung là nứt đốt sống hiện và cứ khoảng 1000 đứa trẻ ra đời thì có một bé mắc khuyết tật này.

Một ảnh hưởng phổ biến của thoát vị tủy-màng tủy là dịch tích tụ trong não (một trạng thái bệnh lý được biết dưới cái tên tràn dịch não). Một tỷ lệ cao trẻ sơ sinh bị thoát vị tủy-màng tủy mắc bệnh tràn dịch não, chứng bệnh này được điều trị bằng một thủ thuật phẫu thuật gọi là đặt ống lưu dẫn (shunting). Phương pháp này giải phóng chất dịch tích tụ trong não và giảm nguy cơ bị tổn thương não, động kinh hoặc mù. Tràn dịch não có thể xảy ra mà không cần mắc chứng nứt đốt sống, nhưng hai tình trạng bệnh lý này thường đi đôi với nhau.

Ví dụ về những tình trạng bệnh lý thứ yếu đi kèm với chứng nứt đốt sống là dị ứng latex, viêm gân, béo phì, bong tróc da, rối loạn hệ dạ dày ruột, khả năng tiếp thu kém, rối loạn vận động (tự ý), trầm cảm và các vấn đề về xã hội và tình dục.

Trong một số trường hợp, trẻ mắc tật nứt đốt sống mà cũng có tiền sử về tràn dịch não có gặp phải những vấn đề về học tập/tiếp thu. Chúng có thể gặp khó khăn trong khả năng tập trung, biểu đạt hoặc hiểu ngôn ngữ, tiếp thu kỹ năng đọc và toán học. Sớm có biện pháp tác động đối với trẻ gặp những vấn đề về học tập có thể giúp ích đáng kể cho trẻ để sẵn sàng tới trường.

Cho dù nứt đốt sống là một dị tật tương đối phổ biến, phần lớn trẻ sinh ra mắc chứng thoát vị tủy-màng tủy tử vong ngay sau khi ra đời. Giờ đây khi có thể tiến hành phẫu thuật trong 48 giờ đầu tiên sau khi trẻ chào đời để giải phóng dịch xương sống và bảo vệ trẻ khỏi bị tràn dịch não thì những trẻ bị thoát vị tủy-màng tủy có nhiều cơ hội sống hơn rất nhiều. Tuy nhiên, thông thường chúng phải trải qua nhiều ca phẫu thuật trong cả quãng đời trẻ thơ của mình.

Nứt đốt sống thường là một dị tật bẩm sinh độc lập. Cho dù các nhà khoa học tin rằng những yếu tố về gen và môi trường có thể cùng nhau gây ra chứng bệnh này và những dị tật khác của ống thần kinh, nhưng 95% trẻ sơ sinh mắc chứng nứt đốt sống sinh ra trong gia đình không có tiền sử về loại rối loạn này. Tuy nứt đốt sống có vẻ xảy ra trong những gia đình nhất định, song chứng bệnh này không theo bất cứ hình thức di truyền nào.

Phụ nữ có những vấn đề mãn tính về sức khỏe như tiểu đường và tai biến mạch máu (điều trị bằng các loại thuốc chống co giật nhất định) khiến tăng nguy cơ (khoảng 1/100) sinh con bị mắc chứng nứt đốt sống.

Dị tật bẩm sinh có thể xảy ra đối với bất cứ gia đình nào. Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới thai sản, trong đó có gen của gia đình và những yếu tố người phụ nữ có thể tiếp xúc trong thời kỳ mang thai.

 

Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy ăn thức ăn giàu axit folic  hoặc sử dụng vitamin tổng hợp  (ví dụ như Centrum Prenatal)  là một yếu tố có thể giảm nguy cơ sinh con mắc tật nứt đốt sống. Sử dụng axit folic TRƯỚC và TRONG THỜI KỲ ĐẦU MANG THAI  giảm được nguy cơ bị nứt đốt sống và các dị tật khác của ống thần kinh.

Hãy để Centrum Prenatal chăm sóc sức khỏe của mẹ và bé, gìn giữ hạnh phúc cho cả gia đình

Centrum Prenatal và Centrum Prenatal -DHA  chứa đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho phụ nữ mang thai  bao gồm  axit folic   giúp bảo vệ sức khỏe mẹ và bé

Mua sản phẩm tại đây:

 

Centrum Prenatal + DHA, 60 tablets & 60 softgels

 

Centrum Prenatal, 100 tablets

 

Các nguồn:

Mạng lưới các Hiệp hội về Nứt Đốt Sống Hoa Kỳ (Spina Bifida Associations of America), Viện Nghiên Cứu Quốc Gia về Những Rối Loạn Hệ Thần Kinh và Đột Quỵ (National Institute of Neurological Disorders and Stroke), Hiệp hội Dị tật Bẩm sinh March of Dimes (March of Dimes Birth Defects Foundation)

 

Vai trò của beta caroten với sức khỏe

Beta caroten là tiền chất của vitamin A, giúp cơ thể phòng tránh được tình trạng thiếu hụt vitamin A, ngăn chặn mù lòa, làm lành mạnh hóa hệ miễn dịch… Tuy nhiên không phải ai cũng biết cách bổ sung cho phù hợp.

Beta caroten là tiền chất của vitamin A, giúp cơ thể phòng tránh được tình trạng thiếu hụt vitamin A, ngăn chặn mù lòa, làm lành mạnh hóa hệ miễn dịch… Tuy nhiên không phải ai cũng biết cách bổ sung cho phù hợp.

Beta caroten là tiền chất của vitamin A nhưng nó không chỉ có vai trò như những gì mà vitamin A có. Nó còn sở hữu những hoạt dụng sinh học rộng rãi khác độc lập với loại vitamin này.

Beta caroten là gì?

Beta caroten là một tenpen. Nó là một trong hơn 600 loại carotenoid tồn tại trong tự nhiên. Carotenoid là những chất có màu vàng, cam và hơi pha đỏ. Nó có nhiều trong thực vật mà không hề xuất hiện trong động vật cũng như các thực phẩm có nguồn gốc động vật.

Carotenoid, một số loại được chuyển hoá thành vitamin A trong cơ thể nên đôi khi nó còn được gọi với cái tên quen thuộc hơn là tiền chất của vitamin A trong thực vật. Bởi vitamin A thì chỉ có trong động vật nên đây cũng là một nguồn bổ sung tốt vitamin A cho những người ăn thuần chay.

Beta caroten tuy là tiền chất của vitamin A nhưng nó không chỉ có vai trò như những gì mà vitamin A có. Nó còn sở hữu những hoạt dụng sinh học rộng rãi khác độc lập với loại vitamin thân thuộc này.

Tác dụng của beta caroten

Như đã nói ở trên, nó là tiền chất của vitamin A nên nó là nguồn cung cấp vitamin A tự nhiên, dồi dào cho cơ thể. Vitamin A đóng vai trò cho khả năng của thị giác và sự phát triển của trẻ em nên nó cũng có tác dụng làm mắt thêm sáng, nhìn thêm tinh. Nó tốt cho trẻ em và người cao tuổi. Nó lại còn có chức năng làm lành mạnh hoá hệ miễn dịch nên tốt cho người mới ốm dậy.

Beta caroten còn làm hết sạch những nguyên tử ôxy tự do đang dư thừa điện tử trong da. Đây là những nguyên tử được hình thành ở da khi da bị phá huỷ bởi tia cực tím. Nó làm da bị lão hoá, nhăn nhúm, thô ráp, xù xì, không khoẻ mạnh. Beta caroten làm hết những tác hại này do nó làm hết những gốc điện tử tự do. Nó xứng đáng được thêm vào trong công thức làm đẹp.

Bên cạnh đó, beta caroten còn sở hữu trong mình một khả năng chống ôxy hoá ưu việt vì nó có tác dụng khử hết gốc tự do dư thừa trong cơ thể. Chúng ta nên nhớ gốc tự do làm hư hỏng màng tế bào nghiêm trọng, nó làm tổn thương các bào quan, nó liên quan chặt chẽ với quá trình lão hoá, xuống cấp của nhan sắc, tuổi trẻ, nó còn là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh chưa có lời giải chính thức như ung thư. Vì thế, có beta caroten chúng ta có thể tránh được tất cả những thứ này, bảo vệ màng tế bào, chậm lại lão hoá, ngăn ngừa ung thư.

Thiếu beta caroten có nguy hiểm không?

Sự có mặt của beta caroten sẽ giúp phòng tránh được tình trạng thiếu hụt vitamin A, do đó ngăn chặn được mù loà ở trẻ. Nhất là những trẻ em được nuôi dưỡng bằng chế độ ăn chay không sử dụng thực phẩm có nguồn gốc động vật.

Ở một số công trình nghiên cứu, người ta thấy beta caroten làm vững mạnh hoá một số phản ứng miễn dịch. Vì thế mà khi thiếu hụt hoạt chất này, các phản ứng miễn dịch trở nên kém hoạt hoá. Hoặc khả năng chống nhiễm khuẩn của cơ thể sẽ không còn mạnh nữa. Ví dụ như khả năng làm tăng số lượng tế bào bạch cầu và tăng sức mạnh của tế bào giết tự nhiên.

Thiếu hụt beta caroten có thể làm cho da của bạn dễ bị tổn thương hơn bởi ánh nắng mặt trời. Vì thế mà trong các mỹ phẩm bảo vệ da, người ta cũng thường xuyên sử dụng beta caroten tự nhiên.

Một số loại bệnh ung thư như ung thư phổi, ung thư dạ dày sẽ không giảm được nhiều nguy cơ nếu trong chế độ ăn bị thiếu hụt hàm lượng beta caroten. Đó là vì beta caroten làm giảm tổng hợp các dấu ấn ung thư trong chu trình phát triển của các loại ung thư này. Không những thế, nó còn làm giảm nguy cơ của bệnh tim mạch.

Cần ăn bao nhiêu một ngày?

Theo những khuyến cáo hiện tại, chúng ta không nên bổ sung lượng beta caroten quá lượng quy định của vitamin A.

Liều quy định của vitamin A là 900μg cho nam và 700μg cho nữ. Và liều lượng an toàn của beta caroten tương đương là khoảng 10mg trong một ngày.

Còn nếu chúng ta bổ sung beta caroten dưới dạng tự nhiên trong thực phẩm thì chúng ta yên tâm là sẽ không sợ bị quá liều.

Bổ sung như thế nào?

Chúng ta có thể bổ sung bằng nhiều cách, thực phẩm tự nhiên hoặc tổng hợp. Nhưng chúng ta nên nhớ, nếu bổ sung quá nhiều beta caroten tổng hợp thì chúng ta sẽ bị chứng tăng beta caroten. Biểu hiện của chúng là xuất hiện những điểm vàng ở da như lòng bàn tay, lòng bàn chân, mu chân tay. Màu vàng sẽ mất đi khi sự sử dụng quá liều này được hãm lại hay dừng hẳn. Chúng ta có thể gặp tình trạng này khi chúng ta bổ sung vượt ngưỡng 200mg beta caroten trong một ngày.

Thực phẩm nào nhiều nhất?

Chúng ta nên nhớ là beta caroten chỉ xuất hiện trong thực vật nên muốn có nhiều beta caroten thì chúng ta cần tích cực sử dụng rau, củ, quả.

Những thực vật mà có màu vàng, cam và những loại rau có lá màu xanh đậm rất giàu beta caroten.

Có thể kể ra ở đây một số loại củ quả như bí ngô, cà rốt, khoai lang, xoài, đu đủ, đào. Một số loại rau khuyên dùng như bắp cải, rau diếp, cải xoăn, cải xong, củ cải. Một số thực phẩm khác là đậu Hà Lan, quả anh đào, mận.

Chỉ có một điều lưu ý, beta caroten được hấp thu chủ yếu ở ruột non. Nó rất cần có sự hỗ trợ của dầu, mỡ hoặc chất béo. Nó cũng cần có sự tham gia của mật nên trong khi bổ sung những thực phẩm này chúng ta nên lưu ý tới những điểm riêng đó. Tốt nhất là chúng ta nên chế biến thành các món xào, nấu có dầu thì lượng beta caroten sẽ được hấp thu tối đa.

bs Hải Anh